Tình hình doanh nghiệp Việt Nam quý I năm 2025: Khả quan nhưng nhiều thách thức

28/03/2025 14:43


Bối cảnh kinh tế thế giới trong quý I năm 2025 tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, đặt ra nhiều thách thức cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Sự bất ổn của kinh tế toàn cầu, lạm phát gia tăng, biến động địa chính trị và những thay đổi trong xu hướng tiêu dùng đã tạo áp lực lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong bối cảnh đó, bức tranh về tình hình phát triển doanh nghiệp quý I năm nay vẫn có nhiều điểm sáng tích cực. Trong tháng 3/2025, số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường đạt trên 24,7 nghìn doanh nghiệp, tăng 36,5% so với cùng kỳ năm trước, gấp 2,2 lần số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường (11,4 nghìn doanh nghiệp). Tính chung quý I/2025, cả nước có trên 72,9 nghìn doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2024. Bên cạnh tốc độ tăng trưởng ấn tượng, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn gặp nhiều thách thức từ cả trong và ngoài nước. Bài viết khái quát bức tranh tổng thể tình hình tài chính doanh nghiệp quý I/2025, dự báo triển vọng và thách thức trong năm 2025 và đưa ra một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước phát triển kinh tế bền vững trong bối cảnh mới.

Những kết quả tích cực đạt được trong quý I năm 2025

Theo số liệu từ Cục Thống kê, GDP của Việt Nam trong quý I/2025 tăng trưởng ấn tượng 6,93% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất trong 5 năm qua. Trong đó giá trị tăng thêm của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,74%; Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,42%; khu vực dịch vụ tăng 7,7%. Đóng góp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế trong quý I/2025 có vai trò then chốt của cộng đồng doanh nghiệp. Trong tháng 3/2025, cả nước có hơn 15.600 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký hơn 126.300 tỷ đồng và số lao động đăng ký hơn 87.500 lao động, tăng 54,2% về số doanh nghiệp, giảm 7,4% về số vốn đăng ký và tăng 48% về số lao động so với tháng 2. So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong tháng tăng 3,4%, số vốn đăng ký giảm 4,7% và số lao động tăng 2,6%. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 8,1 tỷ đồng, giảm 39,9% so với tháng trước và giảm 7,8% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, trong tháng 3/2025, cả nước có hơn 9.100 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 29,3% so với tháng trước và gấp hơn 3 lần cùng kỳ năm 2024. Tính chung quý I/2025, cả nước có 36.400 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký gần 356.800 tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký gần 228.200 lao động, giảm 4% về số doanh nghiệp, tăng 1,3% về số vốn đăng ký và giảm 14,6% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong quý I/2025 đạt 9,8 tỷ đồng, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm 2024. Bên cạnh đó, trong quý I/2025, cả nước có hơn 36.500 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 54,8% so với cùng kỳ năm 2024, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong quý I/2025 lên hơn 72.900 doanh nghiệp, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2024. Như vậy, tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế (bao gồm vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới và vốn đăng ký tăng thêm của các doanh nghiệp đang hoạt động) trong 3 tháng đầu năm nay là 1,38 triệu tỷ đồng, gấp gần 2,1 lần cùng kỳ năm 2024.

 Tin 28.3.25

Doanh nghiệp phục hồi, tiếp sức cho tăng trưởng (Nguồn: baochinhphu.vn) 

Quý I/2025 có sự bùng nổ trong đăng ký doanh nghiệp mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động do các doanh nghiệp tin tưởng vào môi trường sản xuất, kinh doanh của Việt Nam đang được cải thiện cũng như triển vọng tăng trưởng kinh tế của nền kinh tế trong thời gian tới. Nền kinh tế ngày càng được củng cố và nâng cao, thể hiện qua các kết quả, đặc biệt là qua công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong các quy định pháp luật để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh. Ngoài ra, việc Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68 về thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua đó, kinh tế tư nhân không chỉ được thừa nhận về mặt pháp lý mà còn được khẳng định vai trò chiến lược lâu dài trong cơ cấu kinh tế quốc dân. Đây là nền tảng cho việc hoàn thiện môi trường đầu tư kinh doanh minh bạch, thuận lợi, góp phần nâng cao niềm tin của doanh nghiệp tư nhân.

Các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức

Ngoài những kết quả đạt được, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức do ảnh hưởng bởi biến động của kinh tế thế giới nhất là đối với nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, đặc biệt trước các chính sách kinh tế khó lường của Mỹ và phản ứng của các nước. Các biện pháp thuế quan mới từ Hoa Kỳ và các quốc gia khác có thể ảnh hưởng đến xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Đặc biệt sau khi Chính phủ Mỹ công bố mức thuế nhập khẩu tăng cao kỷ lục với hầu hết các quốc gia, trong đó Việt Nam bị áp thuế 46%, nằm trong nhóm các nước bị áp mức thuế nhập khẩu cao nhất thế giới. Mặc dù chính sách áp thuế này được tạm hoãn trong 90 ngày và giảm xuống mức thuế phổ thông 10%  nhưng vẫn sẽ gây tác động tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp trong thời gian tới do Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2024. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn trong bối cảnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi số theo xu hướng toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ. Các doanh nghiệp phải chịu áp lực chi phí chuyển đổi cao do phải đầu tư đổi mới công nghệ, quy trình sản xuất để đáp ứng tuân thủ tiêu chuẩn môi trường quốc tế (đặc biệt là các ngành dệt may, da giày, thủy sản,...) khi các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản đang áp dụng hàng loạt quy định như CBAM (thuế carbon của EU), tiêu chuẩn sản phẩm xanh, truy xuất nguồn gốc… Mặt khác, quá trình chuyển đổi số tại các doanh nghiệp diễn ra còn chậm. Theo nhiều khảo sát, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam mới ở giai đoạn “số hóa cơ bản” (chưa dùng dữ liệu lớn, AI, IoT cho quản trị). Điều này khiến năng suất thấp, khó cạnh tranh với DN FDI vốn đã áp dụng những ứng dụng của chuyển đổi số trong sản xuất – bán hàng từ lâu. Mức năng suất lao động tại các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn ở mức thấp. Theo số liệu của ILO và Tổng cục Thống kê, năng suất của lao động Việt Nam vẫn chỉ bằng khoảng 1/18 Singapore, 1/6 Malaysia, và 2/5 Thái Lan. Đây là rào cản khi doanh nghiệp cần tăng hàm lượng công nghệ và đổi mới sáng tạo để thích ứng với xu thế kinh tế mới. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng phải đối diện với áp lực tăng cạnh tranh và nhu cầu đổi mới công nghệ, thiết bị, máy móc sản xuất cũ, khó tiếp cận tài chính xanh, trong khi tăng chi phí đầu vào, nhất là lãi suất, tiền lương, logistics. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa phụ thuộc vào vốn tín dụng, nhưng đa phần là tín dụng ngắn hạn và khó đáp ứng được quy trình, thủ tục, luồng tiếp cận vốn. Các quy định của pháp luật hiện đã có những thay đổi theo hướng tích cực, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, tuy nhiên vẫn chưa thể tháo gỡ hết những khó khăn về pháp lý cho doanh nghiệp, đặc biệt chưa tạo động lực khuyến khích các hộ kinh doanh, hợp tác xã tiến tới mở rộng quy mô và chuyển sang hình thức doanh nghiệp.

Một số giải pháp trong thời gian tới

Trong bối cảnh kinh tế thế giới đầy biến động, còn nhiều yếu tố bất ổn và khó lường hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được dự báo tiếp tục khó khăn cả về đầu vào và đầu ra. Các doanh nghiệp cần tích cực triển khai một số giải pháp sau:

Các doanh nghiệp cần khai thác nhiều hơn thị trường nội địa: Với quy mô 100 triệu dân, thị trường nội địa được coi là cơ hội lớn cho doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh gặp khó khăn khi xuất khẩu. Theo đó, doanh nghiệp cần tích cực nắm bắt nhu cầu tiêu dùng nội địa, đưa ra các sản phẩm phù hợp với nhu cầu, thị hiếu và xu thế tiêu dùng của người Việt Nam. Đẩy mạnh các chương trình kích cầu tiêu dùng trong nước. Đồng thời, các doanh nghiệp cũng phải nắm bắt các xu hướng để chuyển đổi mô hình kinh doanh mới và phát triển các dịch vụ mới từ chính các ngành sản xuất kinh doanh truyền thống của mình.

Mở rộng thị trường xuất khẩu: Trong điều kiện cầu về tiêu dùng thế giới suy giảm, các doanh nghiệp cần vừa duy trì quan hệ thương mại với các thị trường đã khai thác, vừa chủ động tìm kiếm thị trường mới; tận dụng các cam kết trong các Hiệp định FTA đã ký kết và thông qua các chuỗi giá trị toàn cầu để tìm kiếm thị trường mới, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, nhập khẩu. Đồng thời, các doanh nghiệp cần chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ của mạng lưới các cơ quan thương vụ Việt Nam ở nước ngoài để tìm hiểu, nắm bắt nhu cầu thị trường, nắm vững quy định pháp luật của nước sở tại để có chiến lược sản xuất kinh doanh, tiếp cận thị trường phù hợp và hiệu quả. Để hỗ trợ doanh nghiệp, Chính phủ cần chỉ đạo các cơ quan ngoại giao và cơ quan thương vụ ở nước ngoài tích cực hoạt động mở rộng thị trường, phát triển hoạt động thương mại hàng hóa Việt Nam với các đối tác mới.

Tích cực đầu tư đổi mới công nghệ, thực hiện chuyển đổi số, nâng cao năng suất lao động, năng lực quản trị doanh nghiệp: Quản trị công ty là yếu tố then chốt đối với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp tăng cường khả năng chống chịu, thích ứng với những khó khăn, thách thức của thị trường. Doanh nghiệp cần nhận thức đúng về tầm quan trọng của năng lực quản trị công ty; xây dựng và áp dụng mô hình quản trị phù hợp với đặc điểm, tính chất và quy mô hoạt động của mình. Cùng với đó, cần nâng cao năng suất lao động thông qua đổi mới công nghệ và tự động hóa, đầu tư máy móc, dây chuyền hiện đại để giảm thời gian, tăng độ chính xác, ứng dụng công nghệ số như AI, IoT, RPA… để quản lý sản xuất, kho bãi, bán hàng; Thiết kế lại quy trình làm việc, loại bỏ các khâu trùng lặp, giảm thủ tục không cần thiết; Thường xuyên đào tạo nâng cao tay nghề, kỹ năng chuyên môn, kỹ năng số, kỹ năng quản lý để đáp ứng yêu cầu công việc ngày càng cao. Ngoài ra, để nâng cao khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường, doanh nghiệp cần phải nâng cao năng lực quản trị công nghệ và cập nhật công nghệ, chuyển đổi số. Qua đó bảo vệ được các hoạt động kinh doanh sẵn có, đảm bảo được vị thế cạnh tranh đang có của doanh nghiệp và sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp, tạo ra cơ hội kinh doanh mới.

Chính phủ cần tiếp tục thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn về thị trường đầu ra, dòng tiền và chi phí cho doanh nghiệp. Theo đó, cần tiếp tục xem xét thực hiện chính sách giảm thuế GTGT; không ban hành các chính sách có thể làm gia tăng chi phí cho các doanh nghiệp. Đồng thời, Chính phủ cần hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn với lãi suất hợp lý; khuyến khích các tổ chức tín dụng phát triển và đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng, cũng như các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, các sản phầm phòng ngừa rủi ro lãi suất và tỷ giá nhằm giúp doanh nghiệp chủ động về vốn và tăng cường khả năng phòng ngừa rủi ro. 

Để giảm thiểu nguy cơ và tác động tiêu cực của chiến tranh thương mại, Chính phủ cần chỉ đạo tăng cường quản lý, kiểm soát chặt chẽ thị trường trong nước, chống đầu tư núp bóng, lợi dụng thị trường Việt Nam để gian lận xuất xứ hàng hóa,… xuất khẩu sang Hoa Kỳ dẫn đến thặng dư thương mại phi thực tế. Cơ quan Hải quan và các cơ quan liên quan cần tiếp tục tăng cường quản lý, kiểm tra, xác định xuất xứ đối với một số nhóm mặt hàng nhập khẩu, xuất khẩu có kim ngạch tăng đột biến, các mặt hàng trong diện áp dụng thuế suất chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại, có nguy cơ gian lận, giả mạo xuất xứ, ghi nhãn hàng hóa, chuyển tải bất hợp pháp. Tăng cường kiểm tra hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc địa bàn quản lý để xác định doanh nghiệp có hoạt động gia công, lắp ráp, sản xuất hàng hóa xuất khẩu đáp ứng tiêu chí xuất xứ theo quy định. Siết chặt công tác kiểm tra xuất xứ từ khâu tiếp nhận hồ sơ đến khâu kiểm tra sau thông quan. Cung cấp thông tin rộng rãi đến các doanh nghiệp đối với các vấn đề xung quanh xung đột thương mại (các động thái cũng như danh mục hàng hóa bị đánh thuế) để các doanh nghiệp có thể chủ động, linh hoạt trong việc sản xuất, tìm kiếm thị trường, đối tác và đưa ra những giải pháp kịp thời, phù hợp.

ThS. Nguyễn Thị Hường