Điều chỉnh địa giới hành chính và phân vùng kinh tế - xã hội: Nhìn từ thực tiễn Đông Nam Bộ
15/05/2025 17:50
Trong tiến trình đổi mới và hội nhập, Việt Nam đang triển khai nhiều cải cách lớn về thể chế, trong đó có việc sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trong bối cảnh nước ta đang đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và liên kết vùng. Điều chỉnh địa giới hành chính có tác động mạnh mẽ đến cách thức phân chia và vận hành các vùng kinh tế - xã hội. Khi không gian hành chính thay đổi, cấu trúc vùng cũng biến đổi theo, đặt ra yêu cầu mới trong điều phối phát triển, phân bổ nguồn lực và liên kết hạ tầng. Trong số các vùng kinh tế - xã hội, Đông Nam Bộ giữ vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là vùng động lực tăng trưởng hàng đầu cả nước, vừa chịu tác động trực tiếp từ phương án sáp nhập tỉnh.
Tác động tích cực từ việc sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh ở Đông Nam Bộ
Chủ trương điều chỉnh, sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh ở Việt Nam xuất phát từ yêu cầu tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và phù hợp với xu thế phát triển vùng, quốc gia. Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã mở đường cho quá trình sáp nhập một số tỉnh, tạo cơ sở pháp lý để tái định hình không gian phát triển kinh tế - xã hội.
Đối với vùng Đông Nam Bộ, phương án sáp nhập tạo ra những thay đổi quan trọng trong cấu trúc hành chính và không gian phát triển. Hiện nay, vùng Đông Nam Bộ bao gồm 06 tỉnh, thành phố: thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Phước. Theo phương án sáp nhập, thành phố Hồ Chí Minh hợp nhất với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu thành một “siêu đô thị” mang tên thành phố Hồ Chí Minh; Đồng Nai hợp nhất với Bình Phước; Long An (trước thuộc Đồng bằng sông Cửu Long) hợp nhất với Tây Ninh. Vùng Đông Nam Bộ mới chỉ còn 03 đơn vị hành chính cấp tỉnh: thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Tây Ninh.
Thành phố Hồ Chí Minh - không gian phát triển mới (Nguồn: baochinhphu.vn)
Những thay đổi này mở ra một không gian phát triển mới, trong đó các nguồn lực được tập trung và phân bổ hợp lý hơn, giảm sự phân tán, tạo điều kiện cho việc hình thành những trung tâm phát triển có quy mô lớn, đủ sức dẫn dắt tăng trưởng của cả vùng. Trên nền tảng đó, một cấu trúc kinh tế mới dựa trên lợi thế nổi trội được định hình: thành phố Hồ Chí Minh với vai trò trung tâm tài chính, dịch vụ hiện đại, trung tâm khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ cao của vùng và cả nước; Đồng Nai giữ vị thế hạt nhân công nghiệp và logistics; Tây Ninh trở thành cửa ngõ chiến lược kết nối vùng Đông Nam Bộ với Đồng bằng sông Cửu Long và Campuchia. Năng lực cạnh tranh của toàn vùng từ đó cũng được nâng cao. “Siêu đô thị” thành phố Hồ Chí Minh sau sáp nhập có quy mô GRDP (theo giá hiện hành năm 2024) khoảng 2.715,78 nghìn tỷ đồng (23,6% GDP cả nước), quy mô dân số khoảng 13,6 triệu người (13,4% cả nước), quy mô lao động khoảng 7,67 triệu người (14,5% cả nước) và thị trường đủ lớn để hấp dẫn các nhà đầu tư quốc tế. Đồng thời, lợi thế cảng biển nước sâu Cái Mép - Thị Vải của Bà Rịa - Vũng Tàu cùng công nghiệp năng lượng, hóa dầu sẽ bổ sung mạnh mẽ cho chuỗi logistics và xuất khẩu, tạo nên một hệ sinh thái sản xuất - dịch vụ - hậu cần có tính liên thông cao và sức cạnh tranh vượt trội.
Trên phương diện không gian phát triển, quá trình sáp nhập cũng góp phần tái định hình hệ thống đô thị và công nghiệp. Các trung tâm mới như Long Thành, Biên Hòa, Chơn Thành, Đức Hòa hay Bến Lức sẽ trở thành những không gian động lực mới, có sức hút, giảm áp lực dân số và hạ tầng cho thành phố Hồ Chí Minh, kéo giãn khu vực lõi, tạo cân bằng về không gian trong mối quan hệ chức năng.
Nhìn rộng ra trên góc độ vùng, các kết nối không gian được mở rộng nội vùng và liên vùng, bổ trợ nhau về chức năng, khi đưa Long An vào Tây Ninh, vùng sẽ có thêm vị trí cửa ngõ kết nối với bên ngoài. Đồng thời các cao tốc kết nối cảng hàng không quốc tế Long Thành tạo bộ khung hạ tầng tích hợp, kết nối chức năng trên toàn vùng, thuận lợi trong trao đổi giữa các trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ với các đầu mối giao thông quốc tế.
Trong xu thế chuyển đổi mô hình phát triển xanh, bền vững, với các không gian phát triển mới, tạo điều kiện để vùng tái định hình lại các chức năng công nghiệp truyền thống sang công nghiệp hiện đại, nhất là chuyển đổi và di dời các cơ sở công nghiệp không đáp ứng điều kiện về bảo đảm môi trường bằng các ngành công nghiệp sạch, dịch vụ hiện đại, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, thúc đẩy thương hiệu, sức hút và năng lực cạnh tranh của vùng.
Thách thức đặt ra đối với vùng Đông Nam Bộ
Bên cạnh những thuận lợi, nhiều thách thức đặt ra đối với vùng Đông Nam Bộ, khi quy mô và phạm vi quản lý lớn hơn rất nhiều, bộ máy chính quyền phải đối diện với những yêu cầu mới về năng lực quản lý, điều hành. Các vấn đề về chồng chéo trong quản lý, đặc biệt là ở những lĩnh vực như quy hoạch đô thị, hạ tầng kỹ thuật và xã hội, bố trí khu vực dân cư, khu vực sản xuất, song hành với đảm bảo các mặt về an ninh trật tự và vệ sinh môi trường; đặt ra thách thức về quản lý gắn với mô hình và phương thức quản trị hiện đại.
Thành phố Hồ Chí Minh vươn mình trong kỷ nguyên mới (Nguồn: baochinhphu.vn)
Cùng với đó, việc định hình lại cấu trúc và hình thành các không gian mới tạo áp lực rất lớn đối với hệ thống hạ tầng phục vụ, gia tăng nhu cầu kết nối các khu vực, trong khi nguồn lực đầu tư là có hạn. Với định hướng phát triển hạ tầng đồng bộ, kết nối đa phương thức cao tốc, đường sắt, cảng biển, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa trung ương và địa phương để hoàn thành các công trình trọng điểm, mở ra các không gian phát triển mới.
Thêm vào đó, sự khác biệt về văn hóa, đặc điểm xã hội, chênh lệch mức sống đặt ra yêu cầu phải có các chính sách hợp lý để vừa có thể giữ gìn được bản sắc địa phương, vừa đảm bảo tính thống nhất về nhận diện văn hóa của vùng Đông Nam Bộ mới.
Ngoài ra, các hoạt động kinh tế có xu hướng tập trung vào các cực phát triển như thành phố Hồ Chí Minh hay Đồng Nai, bỏ lại những khu vực nông thôn hoặc những địa bàn chưa phát triển có nguy cơ tụt hậu, gia tăng chênh lệch mức sống và thụ hưởng trong vùng.
Một số giải pháp trong thời gian tới
Trước hết, tập trung rà soát và triển khai quy hoạch vùng, các quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị và nông thôn, các quy hoạch kỹ thuật chuyên ngành đảm bảo tính thống nhất về định hướng, trọng tâm là hạ tầng kết nối, chức năng đô thị và phân bổ đất đai đáp ứng các yêu cầu phát triển mới.
Tiếp theo, cần thiết lập cơ chế điều phối vùng hiệu quả trên cơ sở kiện toàn Hội đồng điều phối vùng Đông Nam Bộ trong bối cảnh các tỉnh hợp nhất, xây dựng cơ chế trao thẩm quyền, nguồn lực và công cụ để các địa phương phối hợp trên cơ sở cân đối lợi ích, bảo đảm tính thống nhất trong việc thực thi các dự án hạ tầng lớn, phân bổ nguồn vốn và thu hút đầu tư chiến lược.
Cùng với đó là đẩy nhanh tiến độ đầu tư cho hạ tầng nội vùng, liên vùng, tạo bộ khung để khai thác, trao đổi các lợi thế, cân bằng và bền vững về chức năng trong không gian toàn vùng. Tạo điều kiện thuận lợi để thu hút nguồn vốn tư nhân, vốn FDI dựa trên các cơ chế hợp tác công - tư (PPP), đảm bảo tính nhất quán, minh bạch để giảm thiểu rủi ro cho các bên liên quan.
Chính quyền các địa phương chủ động xây dựng các chương trình bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa của địa phương, đóng góp trong xây dựng hình ảnh vùng, hình thành bản sắc chung của Đông Nam Bộ mới. Chú trọng giải quyết nguy cơ phân hóa giàu - nghèo, bảo đảm phát triển cân bằng giữa khu vực đô thị và nông thôn.
Phát triển của vùng đặt trong tầm nhìn dài hạn, gắn với mô hình kinh tế mới theo hướng xanh, tuần hoàn, gắn với đổi mới sáng tạo. Đông Nam Bộ trở thành nơi hội tụ của các ngành dẫn dắt công nghệ cao, dịch vụ hiện đại dựa trên tri thức và đổi mới sáng tạo. Để đạt được điều đó cần tập trung chính sách để đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước và quốc tế, đưa vị thế vùng vươn tầm khu vực, có khả năng cạnh tranh toàn cầu.
Tổng quan lại, điều chỉnh địa giới hành chính cấp tỉnh theo Nghị quyết 60-NQ/TW mở ra một giai đoạn phát triển mới cho vùng Đông Nam Bộ, tái định hình không gian phát triển và cấu trúc vùng với quy mô lớn, năng lực cạnh tranh cao, tính lan tỏa mạnh đặt trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ, với vị thế ngày càng khẳng định trên trường quốc tế. Từ đó đặt ra vai trò quan trọng của đầu tàu Đông Nam Bộ trong dẫn dắt quá trình phát triển quốc gia nhằm hiện thức hóa khát vọng hùng cường của dân tộc Việt Nam.
Lê Anh Đức