Ý kiến - Trao đổi
Một vài suy nghĩ về các giải pháp cho phát triển của Việt Nam đến năm 2035
Updated: 2/20/2015 GMT + 7
Cần phải phân bổ hợp lý công bằng, giám sát, quản lý mọi tiềm lực và bước đi của quá trình thực hiện chiếc lược phát triển quốc gia, đặc biệt là chất lượng con người.

Ở góc độ người dân chúng tôi hết sức tán đồng và hoan nghênh, lần đầu tiên có thiện chí thăm dò suy nghĩ của nhân dân đối với xây dựng chiến lược phát triển Đất nước.

Được gợi ý của Bộ Kế hoạch & đầu tư và Ngân hàng Thế giới chúng tôi xin mạnh dạn góp thêm một số cách nhìn nhận vấn đề này như sau:

1.Không nên xây dựng chiến lược là dạng tài liệu " để xếp vào ngăn kéo tủ ”

2.Chiến lược, hoặc không có chiến lược nhưng Việt Nam phải có sự bùng nổ phát triển kinh tế.

3.Trình bày thật rõ với Lãnh đạo Đảng và Nhà nước những nội dung Chính Trị trong lĩnh vực kinh tế để đi đến đổi mới thực sự.

4.Chiến lược phát triển lần này không chỉ là ý chí mà còn có cả sự khôn ngoan của toàn dân tộc.

(Trước đây, thế giới đã thừa nhận sức huy động của Việt Nam trong chiến tranh là sức huy động ngang bằng với nước công nghiệp phát triển.)

5.Chiến lược phát triển của Việt Nam đến năm 2035 sẽ đảm bảo hài hòa ở mức cao nhất tương quan giữa Nhà Nước và Xã Hội.

(Với mô hình tăng trưởng cũ, hầu như " sức sống xã hội” chưa được phát huy trong phát triển kinh tế, đối với mô hình mới thì kinh tế tư nhân và thị trường tự do ở Việt Nam sẽ ở mức độ cao hơn rất nhiều vào thời điểm năm 2035).

Phần thứ nhất: Bàn về cách thức xây dựng chiến lược đến 2035.

Việt Nam đã có một số chiến lược phát triển được đưa vào thực thi, nhưng kết quả đạt không như mong muốn.

Nói vào thực chất của chiến lược có rất nhiều vấn đề:

·Định hướng tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế;

·Phương hướng phát triển từng ngành, từng lĩnh vực và địa phương

·Xác định một loạt vấn đề, như: con người và nguồn nhân lực, vùng kinh tế trọng điểm, phát triển kinh tế biển, kết cấu hạ tầng, khoa học – công nghệ…

·Với sự huy động khá đông các nhà khoa học, chuyên gia, nhà quản lý uy tín chúng ta tính toán đi đến những nội dung nhất định gọi là mục tiêu chiến lược. Hai bản Chiến lược 1991-2000 và 2001- 2010 thể hiện rất rõ điều này.

Tóm lại, chiến lược là sản phẩm tư duy thuần túy của một nhóm trí thức. Trong đó, cần nhấn mạnh rằng chúng ta không hề tiếp cận được đến sự rõ ràng (hiểu theo ý nghĩa bằng lượng hóa). Đất nước ta mong muốn " thịnh vượng” thế nào?

Nên bước tiếp theo, tư tưởng chiến lược được thể hiện bằng cụm từ: " Tăng tốc tối đa và phát triển bền vững”, nhưng Việt Nam có trở thành nước công nghiệp hiện đại hay không? Để làm được điều này chúng ta phải làm gì? Làm như thế nào?- hoàn toàn còn là những vấn đề chưa có giải đáp.

Gần đây, câu chuyện về năng suất lao động của Việt Nam thấp so với khu vực được nêu ra nhưng chưa có hồi kết cũng cho thấy nhiều " giá trị tư duy”, "giá trị thực tiễn” trong hoạt động phát triển của chúng ta phải nhanh chóng được "quốc tế hóa” để lấy lại thế cân bằng mà suy xét: Ta đang ở đâu?

Như vậy, chiến lược tới 2035 nên chăng sẽ có cách thức xây dựng trên đôi chân vững chắc là "định lượng hóa” và "quốc tế hóa” ? Theo "qui đổi” bằng phương pháp này, hoặc tính "tương đương” bằng phương pháp khác, nhưng tất cả các khâu, các công đoạn, các đối tượng tham gia xây dựng chiến lược đều phải thực hiện nhiệm vụ được giao theo hướng này. Kèm theo đề xuất thời hạn cuối cùng với Chính phủ hoàn thành việc tính toán đưa ra kết quả tính toán cuối cùng của mình để khớp vào Bản tổng thể Chiến lược Quốc gia.

Phương pháp so sánh để phân tích và lựa chọn sự ưu tiên vẫn là phương pháp chính trong xây dựng chiến lược tới 2035.

Phần thứ hai: Bàn về sự bùng nổ phát triển kinh tế của Việt Nam ( đến năm 2035)

Các Quốc gia đều muốn tăng tốc phát triển dựa vào bùng nổ kinh tế

Việt nam hội nhập và các nước cũng hội nhập Nếu hội nhập với năng lực kém, Việt nam sẽ rất thua thiệt vì vậy cần có phương thức phù hợp.

Nhìn lại Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010, nội dung "đột phá” là: Xây dựng đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà trọng tâm là đổi mới cơ chế, chính sách; tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhân lực; đổi mới tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị mà trọng tâm là cải cách hành chính.

Căn cứ vào kinh nghiệm của 30 năm đổi mới (1986-2016) chúng ta có thể khẳng định khả năng bùng nổ kinh tế chỉ có thể xảy ra ở một số điều kiện là: trên địa bàn đồng bằng ven biển (không thể ở miền núi); Bắt đầu từ yếu tố nhân lực (con người) kết hợp với đòn bẩy từ bên ngoài (như công nghệ và tư bản). Có nhiều phương cách để gây đột phá từng lĩnh vực này. Ví dụ liên quan đến con người, giáo dục đào tạo tư thục của Việt Nam còn thấp. Ở Thái Lan học sinh tư thục chiếm khoảng 50%, ở Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Philippines là 70-80%. Về đại học tư thục Nhật Bản có 122/228 trường (chiếm 69%); Liên Bang Nga có 334/587 (chiếm 57%); Indonesia có 1200/1253 trường (chiếm 95,7%); Riêng Trung Quốc, trong vòng 15 năm qua đã có 1300 trường đại học tư thục ra đời và số sinh viên tư thục tăng lên ba lần.

Phần thứ ba: Chiến lược phải tránh được bỏ lỡ thời cơ trong phát triển kinh tế

Muốn vậy phải xác định rõ một số nội dung chính trị trong lĩnh vực kinh tế và cân nhắc những đổi mới cần thiết để không bỏ lỡ cơ hội quyết định phát triển của Đất nước.

Trước mắt, tập trung gỡ những vướng mắc, chưa thông suốt, không gắn kết và đồng bộ, như: chủ trương tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng không có giải pháp thúc đẩy sản xuất hàng hóa lớn với công nghệ hiện đại và tham gia vào hệ thống phân phối toàn cầu. Đặc biệt là kết nối thành công và đồng hành với các tập đoàn kinh tế lớn, xuyên quốc gia, tiếp thu kinh nghiệm quản trị tiên tiến của thế giới.

Phần thứ tư: Chiến lược không chỉ là ý chí, mà còn là sự khôn ngoan của cả dân tộc.

Chúng ta là những người hiểu rõ địa thế, hoàn cảnh dân tộc mình. Đất nước Việt Nam được ví là: " Tam sơn tứ hải nhất phần điền”. Hiểu được điều này chúng ta sẽ khôn khéo dồn sức lực, tài trí cho những địa bàn có khả năng tăng GDP cao nhất và nhanh nhất. Trong đó, động lực chính sẽ là dựa vào tăng năng suất lao động (nghĩa là năng suất lao động đóng góp khoảng 85% quy mô GDP nhờ có áp dụng mạnh công nghệ (trí tuệ) chiếm phần cơ bản của năng suất lao động.

Một ví dụ có thể nêu về sự " khôn ngoan” là để đạt tăng trưởng năng suất lao động xã hội cao hơn, Việt Nam thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành nhưng ưu tiên cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ và đào tạo lại cho lao động nông nghiệp để có đủ trình độ, kỹ năng làm việc ở khu vực phi nông nghiệp.

Phần thứ năm: Chiến lược đảm bảo hài hòa tương quan giữa Nhà nước và Xã hội

Năm 2035 chúng ta có một Nhà nước , có một xã hội ở những mức độ phát triển cao, một chiến lược đích thực sẽ đảm bảo giữ được sự hài hòa tương quan giữa hai lĩnh vực này.

Thực chất, phát triển Nhà nước sẽ nhận được những tiến bộ từ xã hội. Nhà nước tạo ra và duy trì khuôn khổ pháp lý, hoạch định và trực tiếp tổ chức triển khai các hoạt động phát triển. Nếu nhận được sự đồng thuận và đóng góp ngày càng lớn của các nhân tố xã hội, như:

·Các tổ chức kinh tế (doanh nghiệp)

·Sự nghiệp (cơ quan, trường học)

·Tổ chức xã hội và quần chúng nhân dân (Đoàn thanh niên, Hội khuyến học, Hội dinh dưỡng, Hội kế hoạch hóa gia đình, các Hiệp hội và câu lạc bộ thể dục- thể thao…)

Thì Nhà nước càng có cơ sở và tiềm lực thực hiện chiến lược phát triển quốc gia từ phía các nguồn lực mang tính tự nguyện và đóng góp của các lực lượng xã hội. Mặt khác, không chỉ trong triển khai mà quan trọng hơn là phân bổ hợp lý công bằng, giám sát, quản lý mọi tiềm lực và bước đi của quá trình này. Đặc biệt là chất lượng con người.

TS. Đỗ Đức Chi

Ban Nguồn và Phát triển thông tin

Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - Xã hội Quốc gia

Bộ Kế hoạch và Đầu tư


Lê Thành Ý

Trong các giải pháp phát triển Việt Nam đến năm 2035 nông nghiệp và nông thôn ở vùng đồng bằng sông Hồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tôi gửi tới BTC bài viết về vấn đề này từ góc nhìn Khoa học phát triển nông thôn. Trân trọng

3/14/2015 6:14:05 PM


Gửi bình luận
Lưu ý: Bạn phải điền thông tin vào các ô có dấu *
 Họ tên *
 Điện thoại
 Email
 Nội dung *
  Mã bảo vệ Ấn F5 để thay đổi mã bảo vệ
  Nhập mã bảo vệ *
 
Thông tin khác
Chuyên gia Xem thêm
Video
Wait for downloading or browser does not support
Ảnh

VĂN PHÒNG HÀNH CHÍNH BAN CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG BÁO CÁO VIỆT NAM 2035

Địa chỉ: 65 Văn Miếu, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: (+84)-4-38462125 - Fax: (+84)-4-38452209 - Email: vietnam2035@mpi.gov.vn
ĐIỀU KHOẢN SỬ DỤNG | CHÍNH SÁCH BẢO MẬT