Diễn đàn quy hoạch  
Báo cáo hợp phần: "Thực trạng và phương hướng phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học và sư phạm, cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập quốc gia”
Cập nhật: Thứ tư, 29/6/2022 | 9:08:18 Sáng
PGS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam trình bày báo cáo tại Hội thảo.
PGS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam trình bày báo cáo tại Hội thảo.
Tiếp nối chuỗi hội thảo phục vụ hoàn thiện Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, sáng 27 tháng 6 năm 2022, Viện Chiến lược phát triển tổ chức hội thảo xin ý kiến Tổ chuyên gia tư vấn quy hoạch của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư với nội dung "Thực trạng và phương hướng phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học và sư phạm, cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập quốc gia”. Hội thảo do TS. Cao Viết Sinh, Tổ trưởng Tổ chuyên gia tư vấn quy hoạch của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì.

Tham dự hội thảo có TS. Trần Hồng Quang, Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển; Đại diện Vụ Quản lý quy hoạch; các chuyên gia thuộc Tổ chuyên gia tư vấn về quy hoạch của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Nhóm chuyên gia Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, Viện Khoa học Lao động và Xã hội; đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động thương binh và Xã hội; đại diện các Viện nghiên cứu các Bộ, ngành là đơn vị tư vấn lập hợp phần của Quy hoạch tổng thể quốc gia và các cán bộ của Viện Chiến lược phát triển.

Tại Hội thảo, PGS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, đại diện nhóm nghiên cứu trình bày "Thực trạng và phương hướng phát triển hệ thống giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập quốc gia”

Hiện trạng cơ sở giáo dục chuyên biệt và các trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập: Sự chênh lệch về tỷ lệ đi học giữa trẻ khuyết tật và không khuyết tật tăng lên ở các cấp học cao hơn, đến cấp Trung học phổ thông chỉ có 1/3 trẻ khuyết tật đi học đúng tuổi (33,6%). Nhu cầu giáo dục trẻ khuyết tật rất lớn. Các cơ sở giáo dục mới chỉ đáp ứng được 1 phần nhu cầu đi học của trẻ thuộc các dạng khuyết tật. Hiện nay, 34 tỉnh chưa có Trung tâm hỗ trợ hoặc cơ sở giáo dục chuyên biệt cấp tỉnh do ngành giáo dục và đào tạo quản lí. Cơ sở giáo dục (CSGD) chuyên biệt, phân bố không đồng đều, tập trung chủ yếu ở khu vực miền nam. Giáo viên đang làm việc tại các cơ sở giáo dục chuyên biệt gần 90% là nữ. Cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầugiáo dục chuyên biệt cho trẻ khuyết tật.

PGS.TS Lê Anh Vinh cho biết, định hướng đến năm 2025 của hệ thống giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập là củng cố, phát triển hệ thống cơ sở giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập đang có. Đến năm 2030, củng cố, phát triển Trung tâm giáo dục đặc biệt quốc gia, xây dựng các trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục ở 6 vùng kinh tế xã hội (thêm chức năng cho trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục của tỉnh/thành phố được chọn để đảm nhận chức năng hỗ trợ cho vùng) và hệ thống cơ sở GDCB đối với người khuyết tật. Đến năm 2050, Phát triển trung tâm giáo dục đặc biệt cấp quốc gia, các trung tâm hỗ trợ phát triển hòa nhập cấp vùng, tỉnh/thành phố. Các trung tâm này đảm bảo cung cấp phương tiện, học liệu phục vụ giáo dục đặc biệt trong toàn quốc; Chuyển đổi phần lớn các CSGD chuyên biệt đối với người khuyết tật thành các trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập; Trong mỗi cơ sở giáo dục hòa nhập có học sinh khuyết tật theo học đều có phòng hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập; Các cơ sở đào tạo nhân lực cho giáo dục đặc biệt đảm bảo đào tạo đủ nguồn nhân lực có chất lượng cao cho giáo dục đặc biệt.

Ban soạn thảo cũng đã đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển hệ thống giáo dục chuyên biệt đối với người khuyết tật và hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hoà nhập, như: Giải pháp về huy động và phân bố vốn đầu tư; Giải pháp về cơ chế, chính sách; Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực; Giải pháp về hợp tác quốc tế; Giải pháp về tổ chức thực hiện; Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và tăng cường chuyển đổi số.

Cũng tại Hội thảo, ông Lê Ngự Bình, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội đại diện nhóm nghiên cứu trình bày "Thực trạng và phương hướng phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học và sư phạm”.

Ông Lê Ngự Bình, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội trình bày báo cáo tại Hội thảo.

Thực trạng và phương hướng phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN)

Ông Lê Ngự Bình cho biết, cấu trúc mạng lưới cơ sở GDNN phân bố trường được lựa chọn đầu tư theo tiêu chí trường chất lượng cao: Đồng bằng sông Hồng 35,6%; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 24,4%; Đông Nam Bộ 22,2%; Trung du và miền núi phía Bắc 8,9%; Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên đều 4,4%.

Phân bố trường đào tạo theo nhóm ngành nghề trọng điểm quốc gia, khu vực và quốc tế: đối với trường đào tạo các nhóm ngành nghề trọng điểm quốc gia: Tập trung nhiều nhất ở Đồng bằng sông Hồng 27,9%; sau đó là Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 24,4%; thứ ba là Trung Du và miền núi phía Bắc 19,5%; thứ tư là Đồng bằng sông Cửu Long 14,2%; thứ năm là Đông Nam Bộ 9,7%; thứ sáu là Tây Nguyên 4,4%.

Trường đào tạo các nhóm ngành nghề trọng điểm khu vực ASEAN: (1) Trung Du và miền núi phía Bắc 54,3%; (2) Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 16,3%; (3) Tây Nguyên 12,4%; (4) Đồng bằng sông Cửu Long 8,1%; (5) Đồng bằng sông Hồng 7,4%; (6) Đông Nam Bộ 1,6%.

Trường đào tạo các nhóm ngành nghề trọng điểm quốc tế: (1) Đồng bằng sông Hồng 35,4%; (2) Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 22,3%; (3) Đông Nam Bộ 22,1%; (4) Trung Du và miền núi phía Bắc 9,1%; (5) Đồng bằng sông Cửu Long 7,4%; (6) Tây Nguyên 3,8%.

Đội ngũ nhà giáo GDNN phân chia theo cơ sở GDNN năm 2020: Cả nước có 83.959 giáo viên, trong đó: Trường CĐ: 37.235 giáo viên; Trường trung cấp: 13.295 giáo viên; Trung tâm giáo dục nghề nghiệp: 23.086 giáo viên; Cơ sở khác có tham gia hoạt động GDNN: 10.343 giáo viên.

Hạ tầng cơ sở GDNN năm 2020: Số xưởng thực hành/ thí nghiệm trung bình mỗi trường là 11,7; Số thư viện trung bình mỗi trường là 1,7; Số Hội trường trung bình mỗi trường là 1,4; Số nhà hiệu bộ trung bình là 7,5; Số phòng ký túc xá trung bình của mỗi trường là 16,8; Số nhà ăn trung bình của mỗi trường là 0,7; Số khu thể thao trung bình mỗi trường là 0,7.

Kết quả đào tạo cho thấy, tỷ lệ tốt nghiệp ở GDNN còn thấp, nhất là ở trình độ Trung cấp, Cao đẳng so với số lượng tuyển sinh đầu vào. Thực tế này có thể xuất phát từ chất lượng đào tạo, năng lực học tập của người học cũng có thể do bản thân người học như bỏ học giữa chừng để tham gia vào thị trường lao động hoặc chuyển sang học đại học.

Ban soạn thảo đã đề ra mục tiêu phát triển mạng lưới cơ sở GDNN quốc gia theo hướng hiện đại, dễ tiếp cận, đa dạng về loại hình, hình thức tổ chức, phân bố hợp lý về cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ, cơ cấu vùng miền, đủ năng lực đáp ứng nhu cầu nhân lực qua đào tạo nghề nghiệp chất lượng cao, có sức cạnh tranh và sáng tạo trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tham gia hiệu quả vào thị trường đào tạo nhân lực và thị trường lao động không biên giới và hội nhập quốc tế. Cụ thể:

- Đến năm 2025, hình thành mạng lưới cơ sở GDNN quốc gia tinh gọn, hiệu quả thông qua việc sắp xếp lại các cơ sở GDNN chất lượng cao hiện có theo hướng phân tầng chất lượng, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế- xã hội của từng vùng, từng địa phương và định hướng phát triển của các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế trong cùng giai đoạn.

- Đến năm 2050, mạng lưới cơ sở GDNN quốc gia phát triển bảo đảm chuẩn hóa, hiện đại hóa, đáp ứng nhu cầu nhân lực có kỹ năng nghề cao của một nước phát triển, thu nhập cao, có trình độ quản trị hiện đại; đồng thời góp phần có hiệu quả nâng cao năng lực cạnh tranh quốc giaTại hội thảo, báo cáo đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thành viên trong Tổ chuyên gia tư vấn quy hoạch của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu; đại diện Bộ Xây dựng cũng như các chuyên gia và đại biểu đến từ các viện nghiên cứu khác.

Thực trạng và phương hướng mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm

Ông Lê Ngự Bình cho biết, đối với thực trạng mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm, hiện nay có 240 trường đại học, 25 học viện, trong đó: 175 trường công lập, 62 trường tư thục và dân lập, 5 trường có 100% vốn nước ngoài, 36 viện nghiên cứu đào tạo tiến sĩ. Cao đẳng có 23 cao đẳng sư phạm, 20 cao đẳng có đào tạo sư phạm mầm non.

Quy mô sinh viên tăng đáng kể trong vòng 20 năm qua, với trên 50% sinh viên nữ. Tuy nhiên, từ những năm 2010, quy mô sinh viên gần như không thay đổi nhiều. Tỷ lệ người học đại học còn thấp so với các nước trong khu vực.

Mục tiêu phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm trong thời gian tới: Phát triển nền GDĐH và đào tạo giáo viên chất lượng, hiệu quả, công bằng, minh bạch và hiện đại, đáp ứng yêu cầu và dẫn dắt phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Đến năm 2030, Việt Nam nằm trong 4 quốc gia có hệ thống GDĐH tốt nhất khu vực Đông Nam Á.

Tại hội thảo, các báo cáo đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thành viên trong Tổ chuyên gia tư vấn quy hoạch của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các địa biểu đế từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, các đại biểu khác tham dự hội thảo.

Kết thúc hội thảo, TS. Cao Viết Sinh, Tổ trưởng Tổ chuyên gia tư vấn về quy hoạch của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá các cao báo cáo trình bày buổi hôm nay. Tuy nhiên, để đảm bảo nội dung đưa ra phù hợp với vị trí của ngành trong Quy hoạch tổng thể quốc gia, Ban soạn thảo cần phối hợp với Viện Chiến lược phát triển, đồng thời bám sát Khung định hướng để đưa vào báo cáo những nội dung quan trọng, mang tầm quốc gia./.

Nguồn: Viện Chiến lược phát triển.


Các tin khác  
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục
 
 
 
Bài đọc nhiều nhất  

Bản quyền thuộc Viện Chiến lược phát triển. Địa chỉ: 65 Văn Miếu - Đống Đa - Hà Nội – Việt Nam
Điện thoại:+84-4-38431848 Fax:+ 84-4-38452209 Email: clpt@mpi.gov.vn
Giấy phép số 549/GP-BC do Bộ Văn hoá - Thông tin (Hiện nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cấp ngày 19 tháng 12 năm 2004.
Ghi rõ nguồn "Viện Chiến lược phát triển" khi phát hành lại thông tin từ website này.
ictgroup.vn