Diễn đàn quy hoạch  
Báo cáo hợp phần: "Thực trạng và phương hướng phát triển không gian biển quốc gia” và "Thực trạng và phương hướng khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ quốc gia” thuộc Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050
Cập nhật: Chủ nhật, 26/6/2022 | 10:16:39 Sáng
PGS. Nguyễn Đình Thọ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường trình bày báo cáo.
PGS. Nguyễn Đình Thọ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường trình bày báo cáo.
Tiếp nối chuỗi hội thảo phục vụ hoàn thiện Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, sáng 24 tháng 6 năm 2022, Viện Chiến lược phát triển tổ chức hội thảo xin ý kiến Tổ chuyên gia tư vấn quy hoạch của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư với nội dung "Thực trạng và phương hướng phát triển không gian biển quốc gia” và "Thực trạng và phương hướng khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ quốc gia”. Hội thảo do TS. Cao Viết Sinh, Tổ trưởng Tổ chuyên gia tư vấn quy hoạch của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì.

Tham dự hội thảo có TS. Trần Hồng Quang, Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển; Ông Lê Văn Thụy, Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý quy hoạch, Giám đốc Ban Quản lý thực hiện nhiệm vụ quy hoạch tổng thể quốc gia và quy hoạch vùng; các chuyên gia thuộc Tổ chuyên gia tư vấn về quy hoạch của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư; PGS. Nguyễn Đình Thọ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường; các chuyên gia thuộc lĩnh vực biển và đại diện các Viện nghiên cứu các Bộ, ngành là đơn vị tư vấn lập hợp phần của Quy hoạch tổng thể quốc gia.

Tại hội thảo, PGS. Nguyễn Đình Thọ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường đại diện nhóm nghiên cứu trình bày báo cáo "Thực trạng và phương hướng phát triển không gian biển quốc gia” và "Thực trạng và phương hướng khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ quốc gia”.

PGS. Nguyễn Đình Thọ cho biết, đối với hiện trạng sử dụng không gian biển: đến này cả nước đã thành lập và đưa vào hoạt động được mạng lưới 12 trong tổng số 16 Khu bảo tồn biển tại Việt Nam gồm: (1) Bạch Long Vĩ/Hải Phòng, (2) Cồn Cỏ/Quảng Trị, (3) Cù  Lao  Chàm/Quảng Nam,  (4)  Lý Sơn/Quảng  Ngãi,  (5)  Vịnh  Nha Trang  (Hòn  Mun)/Khánh Hòa, (6) Hòn Cau/Bình Thuận; (7) Phú Quốc/Kiên Giang (KBTB Phú Quốc hiện nay đã sát nhập vào vườn Quốc gia Phú Quốc), (8) Cô Tô - Đảo  Trần/Quảng Ninh; (9) Vườn quốc gia Bái Tử  Long/Quảng Ninh, (10) Cát Bà/Hải  Phòng, (11) Núi Chúa/Ninh Thuận, (12) Côn Đảo/Bà Rịa - Vũng Tàu. Dọc vùng ven biển Việt Nam còn có hệ thống các khu bảo vệ, bảo tồn thiên nhiên ở cấp độ khác nhau liên quan đến biển: khu dự trữ sinh quyển Cát Bà (Hải Phòng), khu bảo tồn đất ngập nước Xuân Thủy (Nam Định), khu bảo vệ lịch sử - văn hoá - môi trường Nam Hải Vân, khu bao tồn thiên nhiên (BTTN) Sơn Chà (Đà Nẵng), khu BTTN rừng khô Núi Chúa (Ninh Thuận),…

Hiện trạng khai thác, sử dụng tài nguyên vùng bờ: Trong những năm đây, nghề nuôi cá và đặc sản trên biển theo hình thức lồng bè phát triển rất nhanh, nhất là ở các khu vực vinh Hạ Long, Bái Tử Long (Quảng Ninh), quanh đảo Cát Bà (Hải Phòng), sông Cầu (Phú Yên),... mở ra một hướng phát triển có nhiều triển vọng trong tương lai. Các nghề nuôi nhuyễn thể vùng triều, như nuôi trai lấy ngọc, nuôi sò, vẹm cũng có xu hướng phát triển mạnh ở các tỉnh Bến Tre, Tiền Giang, Kiên Giang, Khánh Hòa, Cà Mau, Nam Định, Thái Bình, Quảng Ninh và Thanh phố Hồ Chí Minh. Tổng diện tích tiềm năng nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo ở nước ta khoảng 244.190 ha, trong đó diện tích nuôi vùng bãi triều ven biển 153.300 ha, chiếm 62%; diện tích nuôi vùng vũng vịnh, eo ngách và ven đảo là 79.790 ha, chiếm 33% và nuôi vùng biển hở 11.100 ha, chiếm 5%.

Về giao thông vận tải biển và dịch vụ cảng: tính đến tháng 12 năm 2019, đội tàu biển Việt Nam có 1.507 tàu (trong đó tàu vận tải hàng hóa là 1.047 tàu), với tổng dung tích 4,65 triệu GT và tổng trọng tải khoảng 7,55 triệu DWT. số lượng tàu chuyên dụng chở hàng rời là 100 tàu, dầu là 156 tàu; khí hóa lỏng là 19 tàu; container là 39 tàu. Cơ cấu đội tàu biển Việt Nam trong thời gian qua đã có bước cải thiện đáng kể.

Phát triển du lịch: Hoạt động phát triển du lịch phát triển mạnh tại các đô thị ven biển, thường là các trung tâm du lịch của toàn quốc. Thống kê giai đoạn 2015 - 2019 cho thấy sự tăng mạnh mẽ của lượng khách du lịch ở một số đô thị ven biển.

Khai thác khoáng sản và năng lượng: Những năm qua, công nghiệp khai thác khoáng sản đã có sự phát triển đáng kể. Nhiều loại khoáng sản được các doanh nghiệp khai thác với sản lượng lớn và tăng đều hàng năm như than, vật liệu xây dựng. Công nghệ khai thác, chế biến khoáng sản ngày càng được hiện đại hóa, hoạt động khai thác mỏ cả nước nói chung và ven biển nói riêng có quy mô nhỏ và trung bình, phát sinh nhiều tác động xấu.

Công nghiệp ven biển: Cả nước có 17/18 khu kinh tế (KKT) ven biển đã được thành lập với tổng diện tích mặt đất và mặt nước khoảng hơn 845.000 ha, diện tích đất đã cho thuê tại các khu chức năng trong KKT đạt trên 40.000 ha. Về khu công nghiệp (KCN), hiện toàn quốc đã thành lập 377 KCN, trong đó 290/377 KCN đã đi vào hoạt động.

Bảo tồn, bảo vệ giá trị tự nhiên, sinh thái: Tài nguyên biển đang bị khai thác quá mức, thiếu tính bền vững. Theo ước tính, cỏ biển trên toàn vùng biển nước ta từ Quảng Ninh đến Hà Tiên đã mất khoảng 40 - 60%; Rừng ngập mặn (RNM) mất đến 70% và khoảng 11% các rạn san hô đã bị phá hủy hoàn toàn, không có khả năng tự phục hồi. Những cánh RNM nguyên sinh hầu như không còn. Sự suy giảm trầm trọng diện tích RNM đã kéo theo sự suy giảm đa dạng sinh học biển, đặc biệt mất bãi sinh sản và nơi cư ngụ của các loài thủy sinh. Trong vòng hơn 20 năm qua, Việt Nam đã mất 12% số rạn san hô; 48% số rạn san hô khác đang trong tình trạng suy thoái nghiêm trọng.

Mục tiêu tổng quát phát triển không gian biển là nắm bắt và vận dụng được tiềm năng, lợi thế của không gian biển, vùng bờ. Phát triển bền vững kinh tế biển trên cơ sở áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ, ứng dụng vào khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo tồn các hệ sinh thái biển, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Mục tiêu tổng quát khai thác sử dụng tài nguyên vùng bờ: Quản lý, sử dụng, khai thác bền vững tài nguyên vùng bờ quốc gia, trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa lợi ích kinh tế, bảo vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng. Phát triển các ngành kinh tế biển ven bờ chủ lực theo hướng hiện đại, đồng bộ, bền vững, đóng góp lớn hơn cho sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo ra nhiều sinh kế cho người dân, bảo vệ và bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa và sinh thái biển một cách bền vững, bảo đảm quốc phòng an ninh vững chắc cho Việt Nam, hướng tới một quốc gia mạnh về biển, giàu về biển trong khu vực và trên thế giới.

PGS. Nguyễn Đình Thọ cho biết, việc định hướng sử dụng không gian biển căn cứ vào yêu cầu, quan điểm, tiềm năng và tình hình thực tiễn phát triển không gian biển Việt Nam, trong đó tập trung cho 06 lĩnh vực biển được xác định theo thứ tự ưu tiên: (1) Du lịch và dịch vụ biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (5) Công nghiệp ven biển; (6) Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới.

Đối với khai thác sử dụng tài nguyên vùng bờ, căn cứ vào đặc điểm tự nhiên và xã hội của các vùng khác nhau, trong phạm vi quy hoạch tổng thể quốc gia giai đoạn 2021-2030, đề xuất định hướng sử dụng tài nguyên vùng bờ gồm: không gian sử dụng đất; khai thác sử dụng tài nguyên nước vùng bờ; phát triển rừng ven biển; sản xuất muối biển; khu vực hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy hải sản; khu vực hoạt động công nghiệp; khu vực hoạt động khai thác khoáng sản và năng lượng; khu vực hoạt động du lịch; khu vực hoạt động cảng biển; đô thị ven biển.

Tại hội thảo, báo cáo đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thành viên trong Tổ chuyên gia tư vấn quy hoạch của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các chuyên gia đến từ các viện nghiên cứu. Đặc biệt, báo cáo đã nhận được nhiều ý kiến hữu ích từ các chuyên gia đầu ngành biển, du lịch và môi trường như: PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi, PGS.TS Phạm Trung Lương, GS.TS Đào Xuân Học.

Kết thúc hội thảo, PGS. Nguyễn Đình Thọ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách tài nguyên và  môi trường chân thành cảm ơn và ghi nhận các ý kiến đóng góp của các chuyên gia. Nhóm nghiên cứu sẽ tiếp thu và chỉnh sửa hoàn thiện báo cáo gửi Viện Chiến lược phát triển tổng hợp đưa vào báo cáo Quy hoạch tổng thể quốc gia./.

Nguồn: Viện Chiến lược phát triển
Các tin khác  
Tin trong: Chuyên mục này Mọi chuyên mục
 
 
 
Bài đọc nhiều nhất  

Bản quyền thuộc Viện Chiến lược phát triển. Địa chỉ: 65 Văn Miếu - Đống Đa - Hà Nội – Việt Nam
Điện thoại:+84-4-38431848 Fax:+ 84-4-38452209 Email: clpt@mpi.gov.vn
Giấy phép số 549/GP-BC do Bộ Văn hoá - Thông tin (Hiện nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cấp ngày 19 tháng 12 năm 2004.
Ghi rõ nguồn "Viện Chiến lược phát triển" khi phát hành lại thông tin từ website này.
ictgroup.vn